Lương tối thiểu vùng có phải là mức lương người lao động thực nhận?

Lương tối thiểu vùng năm 2026 là bao nhiêu? Lương tối thiểu vùng có phải là mức lương người lao động thực nhận?

Lương tối thiểu vùng có phải là mức lương người lao động thực nhận?

Theo khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 quy định mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.

Như vậy, lương tối thiểu vùng là mức sàn để đối chiếu tiền lương theo công việc hoặc chức danh, không phải mặc nhiên là số tiền cuối cùng người lao động nhận được vào tài khoản.

Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn lương tối thiểu?

Theo khoản 2 Điều 90 Bộ luật Lao động 2019, mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu.

Quy định này được cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 293/2025/NĐ-CP. Theo đó, mức lương tối thiểu tháng là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo tháng; mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động làm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng.

Đối với người lao động hưởng lương theo giờ, khoản 2 Điều 4 Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định: Mức lương tối thiểu giờ là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo giờ, bảo đảm mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động làm việc trong một giờ và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu giờ.

21-1790576117.jpg

Đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo tuần hoặc theo ngày hoặc theo sản phẩm hoặc lương khoán thì mức lương của các hình thức trả lương này nếu quy đổi theo tháng hoặc theo giờ không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng hoặc mức lương tối thiểu giờ. Mức lương quy đổi theo tháng hoặc theo giờ trên cơ sở thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động lựa chọn theo quy định của pháp luật lao động như sau:

a) Mức lương quy đổi theo tháng bằng mức lương theo tuần nhân với 52 tuần chia cho 12 tháng; hoặc mức lương theo ngày nhân với số ngày làm việc bình thường trong tháng; hoặc mức lương theo sản phẩm, lương khoán thực hiện trong thời giờ làm việc bình thường trong tháng.

b) Mức lương quy đổi theo giờ bằng mức lương theo tuần, theo ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong tuần, trong ngày; hoặc mức lương theo sản phẩm, lương khoán chia cho số giờ làm việc trong thời giờ làm việc bình thường để sản xuất sản phẩm, thực hiện nhiệm vụ khoán.

Lương tối thiểu vùng năm 2026 là bao nhiêu?

Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 293/2025/NĐ-CP, từ ngày 01/01/2026, mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ được quy định như sau:

Vùng I: 5.310.000 đồng/tháng; 25.500 đồng/giờ;

Vùng II: 4.730.000 đồng/tháng; 22.700 đồng/giờ;

Vùng III: 4.140.000 đồng/tháng; 20.000 đồng/giờ;

Vùng IV: 3.700.000 đồng/tháng; 17.800 đồng/giờ.

Địa bàn áp dụng từng vùng được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP.

Lương tối thiểu vùng tăng có đồng nghĩa tất cả người lao động đều được tăng lương?

Khi mức lương tối thiểu tăng, người lao động đang có mức lương theo công việc hoặc chức danh thấp hơn mức tối thiểu mới thì phải được điều chỉnh để bảo đảm không thấp hơn mức tối thiểu.

Đối với những người đang có mức lương cao hơn mức tối thiểu mới, việc có tiếp tục được tăng lương hay không còn phụ thuộc vào hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc thỏa thuận hợp pháp khác.

Đáng chú ý, khoản 4 Điều 5 Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định: Người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức rà soát lại các thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể và các quy chế, quy định của người sử dụng lao động để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp; không được xoá bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động. Đối với các nội dung đã thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể hoặc các thỏa thuận hợp pháp khác có lợi hơn cho người lao động (như chế độ trả lương cho người lao động làm công việc hoặc chức danh đòi hỏi qua học tập, đào tạo nghề cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu và chế độ trả lương cho người lao động làm công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao hơn ít nhất 5%; công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương, làm việc trong điều kiện lao động bình thường) so với quy định tại Nghị định này, thì tiếp tục được thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Như vậy, lương tối thiểu vùng không phải là mức lương người lao động thực nhận. Đây là mức sàn để xác định mức lương theo công việc hoặc chức danh mà người sử dụng lao động thỏa thuận và trả cho người lao động. Số tiền thực nhận còn phụ thuộc vào các khoản phải đóng, phải nộp và các khoản thu nhập khác của từng người lao động.

Minh Khuê (t/h)