Vi phạm nồng độ cồn nhiều lần, có bị tăng mức xử phạt?

Vi phạm nồng độ cồn nhiều lần trong thời gian ngắn được tính là tình tiết tăng nặng. Người vi phạm có thể bị phạt ở mức cao nhất tại khung quy định.

Câu hỏi: Tuần trước tôi điều khiển xe máy vi phạm nồng độ cồn nên bị phạt 7 triệu đồng và tước giấy phép lái xe. Xin hỏi, nếu bây giờ tôi tiếp tục vi phạm nồng độ cồn ở mức cao nhất khi lái xe thì có bị tăng mức phạt hay không?

Trả lời:

Nghị định 100/2019 (quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt), sửa đổi bởi Nghị định 123/2021, quy định phạt tiền từ 6 triệu đồng đến 8 triệu đồng, đồng thời tước giấy phép lái xe từ 22 tháng đến 24 tháng đối với người điều khiển xe máy khi trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililit máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.

Tại điểm b Khoản 1 Điều 9 Nghị định 118/2021 (quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính), quy định đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung phạt tiền được quy định đối với hành vi đó. Trong trường hợp có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên, thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt. Nếu có từ 02 tình tiết tăng nặng trở lên thì áp dụng mức tối đa của khung tiền phạt. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đã được quy định cụ thể tại Luật xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, đối với vi phạm nồng độ cồn ở mức cao nhất, người điều khiển xe máy sẽ bị xử phạt từ 6 triệu đồng đến 8 triệu đồng. Theo quy định pháp luật, mức phạt tiền cụ thể sẽ được áp dụng là mức trung bình của khung hình phạt là 7 triệu đồng.

Đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn lần hai trong thời gian ngắn, ngoài việc bị xử phạt không có giấy phép lái xe (vì lúc này giấy phép lái xe đã bị tạm giữ), thì còn bị xác định là vi phạm nồng độ cồn nhiều lần, tái phạm. Đây được xác định là tình tiết tăng nặng. Do đó, người vi phạm có thể sẽ bị áp dụng mức hình phạt tối đa là 8 triệu đồng thay vì mức trung bình 7 triệu đồng vừa bị phạt.

Bên cạnh đó, mức phạt lỗi không có bằng lái xe với xe máy như sau:

Người điều khiển xe môtô hai bánh có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 và các loại xe tương tự xe môtô mà không có bằng lái xe thì bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng.

Người điều khiển xe môtô hai bánh có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe môtô ba bánh mà không có bằng lái xe thì bị phạt tiền từ 4 triệu đồng đến 5 triệu đồng.

(Điểm a khoản 5, điểm b khoản 7 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP).

Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 800 nghìn đồng đến 2 triệu đồng đối với cá nhân, từ 1,6 triệu đồng đến 4 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe môtô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe môtô thực hiện một trong các hành vi vi phạm giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng hoặc đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng).