Mạng xã hội những ngày qua xôn xao trước đoạn video ghi lại cảnh một người phụ nữ lớn tuổi lớn tiếng mắng con dâu, được cho là trích xuất từ camera trong một gia đình. Theo thông tin lan truyền, người đăng tải là chị Tr. (ở Hà Nội) và sự việc xảy ra vào cuối năm 2024, thời điểm chị vừa sinh con được khoảng 10 ngày.
Chị Tr. cho biết do mâu thuẫn gia đình, mẹ chồng khi đó đã liên tục mắng nhiếc chị trong thời gian dài bằng những lời lẽ khó nghe. Hiện chị đã hoàn tất thủ tục ly hôn nên người xuất hiện trong video được xác định là mẹ chồng cũ.
Sau khi được đăng tải, đoạn video nhanh chóng lan truyền trên nhiều nền tảng mạng xã hội, thu hút hàng loạt bình luận trái chiều. Không ít người bày tỏ sự phẫn nộ, đồng cảm với nhân vật trong clip, trong khi một số khác cũng chia sẻ các video, câu chuyện cá nhân cho thấy họ từng rơi vào hoàn cảnh bị mẹ chồng mắng chửi tương tự.
Có ý kiến lo ngại đây là hành vi xâm phạm quyền riêng tư, khi đăng tải hình ảnh của những người trong video chưa được sự cho phép của các chủ thể liên quan.
Luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TP HCM) cho biết trên Đời sống và Pháp luật, Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý. Đồng thời, Điều 38 của Bộ luật này khẳng định đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
“Các hình ảnh, video ghi lại sinh hoạt gia đình như ăn uống, ngủ nghỉ, trò chuyện nội bộ… khi bị đưa lên mạng xã hội mà không có sự cho phép, về bản chất là hành vi công khai hóa đời sống riêng tư, trực tiếp xâm phạm quyền nhân thân của người liên quan”, luật sư phân tích.
Dưới góc độ Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, hình ảnh và video có khả năng nhận dạng cá nhân được xếp vào dữ liệu cá nhân. Việc thu thập, lưu trữ, công khai hay chia sẻ dữ liệu cá nhân chỉ được phép thực hiện khi có sự đồng ý tự nguyện, rõ ràng của chủ thể dữ liệu, trừ một số trường hợp đặc biệt theo luật định.
Ngoài ra, Điều 17 Luật An ninh mạng 2018 cũng nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng để phát tán thông tin xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để người bị xâm phạm yêu cầu các nền tảng như Facebook, TikTok, YouTube… gỡ bỏ nội dung vi phạm.
Một hiểu lầm phổ biến hiện nay là chỉ khi đăng tải nội dung mang tính bôi nhọ, xúc phạm thì mới bị xử lý. Trên thực tế, pháp luật không đánh giá vi phạm chỉ dựa vào “nội dung tốt hay xấu”, mà tập trung vào việc có được sự đồng ý của người liên quan hay không và hậu quả phát sinh.
Theo luật sư Hoàng Hà, người đăng tải có thể phải chịu trách nhiệm dân sự nếu hành vi đăng bài gây ảnh hưởng đến đời sống, danh dự hoặc tâm lý của người khác. Căn cứ Điều 584 và Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015, người vi phạm có nghĩa vụ gỡ bỏ nội dung, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại nếu có.
Thiệt hại có thể bao gồm tổn thất vật chất (mất thu nhập, chi phí khắc phục hậu quả) và tổn thất tinh thần. Mức bồi thường tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định, tối đa không quá 10 lần mức lương cơ sở.
Bên cạnh đó là trách nhiệm hành chính. Theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP, hành vi thu thập, sử dụng thông tin cá nhân của người khác khi chưa được sự đồng ý có thể bị phạt từ 10 đến 20 triệu đồng, không phụ thuộc vào việc nội dung đó mang tính khen hay chê.
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 cũng trao cho chủ thể dữ liệu quyền yêu cầu xóa bỏ thông tin của mình. Trường hợp người đăng cố tình không gỡ bỏ sau khi đã được yêu cầu hợp lệ, đây sẽ là tình tiết tăng nặng khi xem xét xử lý.
Trong thực tiễn xét xử, tòa án thường xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi đăng tải trái phép, thiệt hại thực tế (tâm lý hoang mang, đời sống bị xáo trộn) và lỗi của người đăng, dù là cố ý hay vô ý.
Pháp luật TP.HCM dẫn lời ThS Liên Đăng Phước Hải, giảng viên Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM cho biết, hiện không ít vụ việc vợ, chồng dùng mạng xã hội như Facebook, TikTok… để “bóc phốt” lẫn nhau, từ tin nhắn riêng tư, hình ảnh, video của cá nhân cho đến các cáo buộc về đời sống hôn nhân. Dưới góc độ pháp lý, những hành vi này không còn là mâu thuẫn tình cảm đơn thuần, mà có thể bị coi là xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật gia đình và danh dự, nhân phẩm của người còn lại.
Ngay cả khi thông tin là sự thật (như việc ngoại tình...), việc tự ý công khai vẫn có thể bị coi là trái pháp luật nếu mục đích là làm nhục, xâm phạm đời tư.
Về chế tài xử lý, ở mức độ nhẹ, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 15/2020 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2022), buộc gỡ bỏ thông tin và xin lỗi công khai. Nghiêm trọng hơn, hành vi xúc phạm, hạ nhục người khác trên không gian mạng có thể bị truy cứu TNHS về tội làm nhục người khác theo Điều 155 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Quyền đối với hình ảnh cá nhân được pháp luật quy định như thế nào?
Căn cứ tại Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:
a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;
b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.
3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.
Trường hợp có hành vi tự ý sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác đăng lên mạng xã hội thì có chế tài xử lý không?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP sửa đổi khoản 37 Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP quy định:
Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội; trang thông tin điện tử được thiết lập thông qua mạng xã hội”.
1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:
a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
b) Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
c) Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn;
d) Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc;
đ) Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu;
e) Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm;
g) Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia;
h) Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm.