Ở Tây Bắc, núc nác từng chỉ là một loại cây mọc dại trên rừng, gắn liền với cuộc sống của bà con dân tộc. Chỉ trong vài năm trở lại đây, loại quả lạ mắt này đã “xuống núi”, trở thành một đặc sản vùng cao được người miền xuôi ưa chuộng.

Núc nác là loài cây thân gỗ, có thể cao từ 10 đến 20 mét, thân thẳng, tán rộng và sinh trưởng khỏe. Cây thường mọc ở các khu rừng thưa, ven nương rẫy hoặc ven đường ở vùng núi. Quả núc nác có hình dáng thuôn dài, dẹt, trông khá giống quả phượng nhưng lớn hơn nhiều. Khi còn non, vỏ quả màu xanh, bên trong có lớp thịt mềm; khi già, vỏ quả cứng lại và khô dần, sau đó nứt ra để phát tán hạt.
Trước đây, cây núc nác không được xem là loại cây có giá trị kinh tế. Người dân vùng cao chủ yếu trồng cây này làm hàng rào, làm trụ leo cho cây tiêu hoặc đơn giản là để che nắng, chắn gió cho nương rẫy. Nhờ khả năng chịu hạn tốt, ít sâu bệnh và có thể phát triển trên những vùng đất nghèo dinh dưỡng, núc nác dễ dàng sinh trưởng ngay cả ở những nơi khô cằn mà ít loài cây khác có thể sống được.
Tuy nhiên, điều khiến núc nác trở nên nổi tiếng chính là giá trị ẩm thực của quả non. Người dân vùng cao từ lâu đã biết tận dụng loại quả này để chế biến thành nhiều món ăn dân dã. Phổ biến nhất là món nộm núc nác – một món ăn giải nhiệt quen thuộc trong những ngày hè nóng bức.

Để làm nộm, quả núc nác non thường được nướng trực tiếp trên bếp củi cho lớp vỏ ngoài cháy xém. Sau đó người ta cạo bỏ phần cháy, lấy phần thịt quả bên trong, thái lát mỏng rồi đem rửa kỹ để giảm vị đắng. Phần núc nác này sẽ được trộn cùng nhiều nguyên liệu như thịt ba chỉ luộc, cá nướng hoặc cá khô rang giòn. Thêm vào đó là lạc rang giã nhỏ, rau thơm, húng, tía tô cùng nước trộn gồm chanh, muối và chút đường. Sau khi trộn đều và để khoảng vài phút cho gia vị thấm, món ăn sẽ có hương vị rất đặc trưng: vị đắng nhẹ của núc nác hòa quyện với vị béo của thịt cá, vị bùi của lạc và mùi thơm của rau rừng.
Ngày nay, khi ẩm thực vùng cao được nhiều du khách quan tâm, các đầu bếp cũng sáng tạo thêm nhiều cách chế biến mới từ núc nác. Ngoài nộm truyền thống, núc nác còn được trộn cùng tai lợn, bì lợn hoặc chế biến theo kiểu salad hiện đại để phục vụ thực khách trong các nhà hàng đặc sản.
Mùa thu hoạch núc nác thường kéo dài từ khoảng tháng 7 đến tháng 9 hằng năm. Vào mùa, tại các chợ vùng cao, quả núc nác tươi được bán với giá khoảng 40.000-70.000 đồng/kg. Với những gia đình sống gần rừng hoặc có trồng cây trong vườn, việc thu hái vài chục cân quả mỗi vụ cũng mang lại một khoản thu nhập đáng kể.
Xét về giá trị dinh dưỡng, núc nác là loại quả chứa nhiều nước cùng các thành phần có lợi cho cơ thể như protein, glucid, chất xơ, caroten và vitamin C. Ngoài ra, quả và vỏ cây còn cung cấp một số khoáng chất cần thiết. Đáng chú ý, trong vỏ cây núc nác có chứa nhóm hợp chất flavonoid, trong đó nổi bật là baicalein và oroxylin. Đây là những hoạt chất được ghi nhận có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và hỗ trợ điều trị các phản ứng phản vệ. Nhờ những đặc tính này, núc nác từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền như một loại dược liệu, thường dùng hỗ trợ điều trị các bệnh như vẩy nến, hen phế quản ở trẻ em và một số chứng bệnh khác.

Theo quan niệm của Đông y, quả núc nác có vị đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát gan, nhuận phế và tiêu viêm. Trong dân gian, loại quả này thường được dùng để hỗ trợ cải thiện các triệu chứng như vàng da, viêm da, nổi mẩn ngứa, sưng đỏ, viêm họng, ho khan, khản tiếng hay đau dạ dày. Ngoài ra, núc nác còn được dùng trong một số bài thuốc dân gian giúp giảm các bệnh phát ban ở trẻ nhỏ. Nhờ những công dụng đó, bên cạnh giá trị ẩm thực độc đáo, núc nác còn được xem là một vị thuốc quý góp phần chăm sóc và nâng cao sức khỏe.
Một số bài thuốc từ cây núc nác
Chia sẻ trên báo SKĐS, Lương y Nguyễn Văn Sáu cho biết núc nác có thể kết hợp trong một số bài thuốc. Tuy nhiên, trước khi sử dụng những bài thuốc này cần tham khảo ý kiến của các bác sĩ, dược sĩ.
Chữa phế nhiệt, ho khan viêm khí quản, khàn tiếng: kinh nghiệm dân gian dùng hạt núc nác từ 3-4 g, sắc nước uống.
Chữa đau dạ dày: hạt núc nác sấy khô tán, ngày dùng 4-6g.
Chữa thống phong: vỏ núc nác 20g, diệp hạ châu, 20g, ngưu tất sắc nước uống thường xuyên.
Chữa sốt nóng, người gầy yếu, đau mắt, nhức đầu, ù tai, đau răng, chảy máu cam, thổ huyết: vỏ núc nác 40g, tri mẫu 40g, thục địa 320g, sơn thù 160g, sơn dược 160g, phục linh 120g, đơn bì 120g, trạch tả 120g. Các vị tán bột làm viên,
Chữa thương hàn, tam tiêu tích nhiệt, hỏa thịnh: đại hoàng, hoàng liên, vỏ núc nác, các vị bằng nhau tán bột, chưng thành bánh, làm viên to bằng hạt ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 20-30 viên với nước.

Chữa miệng lở loét: bạch cương tàm (sao cho tới khi đứt tơ, khử hỏa độc), vỏ núc nác (tẩm mật, nướng khô, khử hỏa độc). Tán bột bôi vào miệng và trên lưỡi.
Hoặc: vỏ núc nác cắt nhỏ, ngậm. Có thể nuốt nước hoặc nhổ đi.
Chữa trẻ nhỏ lưỡi sưng: vỏ núc nác giã nát, trộn với khổ trúc lịch, chấm trên lưỡi.
Chữa thấp nhiệt hạ chú, chứng xích, bạch đới hạ: lương khương sao cháy 12g, vỏ núc nác 12g, thược dược 8g, thu thụ căn 60g. Tán bột làm hoàn bằng hạt ngô mỗi lần 30 viên uống vào lúc đói. Công dụng: thanh nhiệt hóa thấp thu liễm, chỉ đới.