Loại cây được nhắc tới đó là cây lộc vừng, tại Việt Nam được trồng nhiều để làm cây cảnh trước nhà và cũng là cây phong thủy khá phổ biến. Theo quan niệm phong thủy, cây lộc vừng trồng ở sân vườn được ví như “chôn vàng trong sân”. Cây càng sinh trưởng tốt càng được cho là mang lại tài lộc, thịnh vượng cho gia chủ. Không chỉ có vậy, cây này còn được xếp cùng hàng với cây sung và cây vạn tuế để tạo thành bộ ba “Phúc – Lộc – Thọ” hoặc nằm trong bộ tứ Sanh - Sung - Tùng - Lộc, tượng trưng cho năng lượng cát tường, may mắn.
Theo các chuyên gia phong thủy, lộc vừng phát huy năng lượng tốt nhất khi đặt trước sân, gần hồ nước hoặc hiên thoáng, nơi có gió nhẹ và ánh sáng vừa phải. Trồng cây bên trái ngôi nhà (tả Thanh Long) sẽ giúp cân bằng vượng khí, tạo cảm giác hài hòa. Trong không gian kinh doanh, đặt lộc vừng gần lối vào giúp thu hút khách, tăng vận may và tài lộc.

Cây lộc vừng ngoài ý nghĩa phong thủy còn có thể làm rau và vị thuốc. Ảnh minh họa.
Không chỉ mang ý nghĩa tài lộc, may mắn trong phong thủy, cây lộc vừng còn có giá trị ẩm thực và y học mà ít người biết đến. Trong ẩm thực, phần sử dụng nhiều nhất là lá và chồi non của cây lộc vừng. Theo đó, lá cây lộc vừng có vị chát, ăn vào bùi và ngọt hậu nên được kết hợp để làm rau sống ăn cùng các món ăn như gỏi cá, thịt chua, thịt nem chạo… Khi ăn ngoài tăng thêm vị giác, độ ngon của món ăn, lá lộc vừng còn giúp tăng cường chất xơ, giảm nguy cơ có thể bị tiêu chảy.
Các nghiên cứu dược lý và thực nghiệm cho thấy, lá lộc vừng có chứa nhiều hợp chất sinh học như tanin, flavonoid, saponin, glycosid triterpenoid và polyphenol, có thể mang lại một số lợi ích sức khỏe. Theo đó, chiết xuất từ lá lộc vừng cho thấy khả năng ức chế sự phát triển của nhiều vi khuẩn và nấm gây bệnh, như Staphylococcus aureus, Escherichia coli và Candida albicans. Điều này mở ra tiềm năng sử dụng lộc vừng trong hỗ trợ điều trị nhiễm trùng nhẹ ngoài da.
Một số nghiên cứu trên động vật chỉ ra rằng chiết xuất từ lá và vỏ cây lộc vừng có tác dụng chống tiêu chảy, giúp làm giảm nhu động ruột và tiết dịch ruột. Tác dụng này được cho là do hoạt tính làm se và kháng khuẩn của tanin trong cây.
Trong y học cổ truyền, ngoài phần lá, vỏ và quả lộc vừng cũng có nhiều tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh thường gặp. Bác sĩ, lương y Nguyễn Hữu Trọng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Y học cổ truyền sản phẩm hữu cơ Việt Nam cho biết, để có thể dùng lộc vừng làm thuốc trong đông y, mọi người cần thu hái vỏ thân cây, sau đó thái phiến phơi hoặc sấy khô. Vào mùa thu có thể thu hái quả để làm thuốc và dùng ngay khi quả còn tươi.

Quả của cây lộc vừng có thể làm thuốc, nhưng do chứa độc tố nên không tự ý sử dụng. Ảnh minh họa.
Bác sĩ Trọng cho biết thêm, các nghiên cứu y học hiện đại cho thấy, hạt lộc vừng chứa tanin, gôm nhựa, saponin và có cả độc tính. Vì thế, khi sử dụng quả làm thuốc phải hết sức lưu ý, có sự hướng dẫn của người có chuyên môn nhằm tránh gây hại cho sức khỏe. Còn vỏ thân cây có vị đắng chát, tính bình có tác dụng hạ sốt, cầm tiêu chảy. Phần rễ cũng có vị đắng, cũng có thể dùng để giải nhiệt, giải khát.
Về công dụng và liều dùng, bác sĩ Nguyễn Hữu Trọng tư vấn, vỏ thân cây lộc vừng được dùng để chữa đau bụng tiêu chảy, sốt rét, xử lý vết thương do côn trùng cắn với liều dùng 8-16g sắc uống. Nước ép quả bôi chữa các vết chàm, hoặc chữa viêm răng lợi.
Ngoài việc dùng lá non, chồi non làm rau ăn, dùng vỏ thân, quả làm thuốc chữa một số bệnh thường gặp, còn có thể dùng bột quả lộc vừng để làm thuốc đánh bắt cá do trong hạt quả này có độc tính. Lưu ý, ngoài phần lá dùng rau ăn người dân có thể tự ý thu hái và sử dụng. Còn các bộ phận khác dùng làm thuốc chữa bệnh, tốt nhất nên tham khảo ý kiến của thầy thuốc trước khi dùng.