PGS.TS Bùi Thị An: “Chuyển đổi xanh là vấn đề sống còn đối với đất nước”

Việt Nam đang triển khai nhiều biện pháp mạnh mẽ nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh, được xem là xu hướng tất yếu và là con đường phát triển mang tính lựa chọn duy nhất của đất nước. PGS.TS Bùi Thị An, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, đã có những trao đổi với phóng viên xoay quanh tiến trình chuyển đổi xanh tại Việt Nam, những cơ hội, thách thức cũng như các giải pháp để quá trình này được triển khai hiệu quả và bền vững trong thực tiễn.
screenshot-2026-06-16-031945-1781554806.png
PGS.TS Bùi Thị An, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng. (Ảnh: NVCC)

PV: Thưa bà, chuyển đổi xanh đang được xác định là một định hướng phát triển quan trọng của Việt Nam. Theo bà, Việt Nam hiện đang ở giai đoạn nào trong tiến trình chuyển đổi xanh và đâu là những yêu cầu cốt lõi để quá trình này được triển khai hiệu quả, bền vững trong thời gian tới? 

PGS. TS Bùi Thị An: Việt Nam đã có chủ trương chuyển đổi xanh từ những năm gần đây. Hiện nay, chúng ta đang ở trong giai đoạn xây dựng nền tảng. Chuyển đổi xanh là một quá trình tổng thể, được triển khai ở tất cả các lĩnh vực và theo hướng phát triển bền vững. Ba trụ cột phát triển gồm môi trường, kinh tế - xã hội và an sinh phải đi cùng nhau, không thể chệch khỏi nhau được. Nhà nước ta đã xác định rõ chủ trương không bao giờ đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu là vừa bảo đảm môi trường trong sạch, vừa phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội để không ai bị bỏ lại phía sau, tức là phát triển bao trùm.

Có thể nói giai đoạn hiện nay là giai đoạn đặt nền móng, xây dựng cơ sở cho phát triển xanh ở tất cả các lĩnh vực như kinh tế, nông nghiệp, xã hội, giao thông... Đây là một quá trình dài, là xu hướng tất yếu của thế giới cũng như của Việt Nam. Muốn thực hiện được điều đó, trước hết phải chuyển đổi từ tư duy, từ nhận thức. Chúng ta phải làm thế nào để xã hội phát triển bền vững, nghĩa là vừa tăng trưởng kinh tế, vừa bảo vệ môi trường, vừa đảm bảo an sinh xã hội.

PV: Mặc dù chuyển đổi xanh được xem là xu hướng tất yếu và đã được Đảng, Nhà nước xác định là một định hướng phát triển quan trọng, nhưng để hiện thực hóa mục tiêu này trên thực tế vẫn còn nhiều khó khăn. Theo bà, đâu là những thách thức lớn nhất mà Việt Nam đang phải đối mặt trong quá trình chuyển đổi xanh hiện nay? 

PGS. TS Bùi Thị An: Về phát triển xanh, Việt Nam có những thuận lợi nhưng cũng có những thách thức rất lớn. 

Thứ nhất là về nguồn lực kinh tế, quá trình này đòi hỏi phải ứng dụng các công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ hiện đại và công nghệ sạch, trong khi đây đều là những lĩnh vực cần nguồn vốn đầu tư rất lớn. Bên cạnh đó, chuyển đổi xanh gắn liền với việc phát triển kinh tế tuần hoàn. Mặc dù chúng ta đã có chủ trương và định hướng rõ ràng, song việc triển khai trên thực tế vẫn còn hạn chế. Điều này cho thấy để thực hiện thành công chuyển đổi xanh, cần có nguồn lực kinh tế đủ mạnh cùng các cơ chế hỗ trợ phù hợp. 

Thứ hai, chuyển đổi xanh đòi hỏi sự thay đổi về tư duy và thói quen trong toàn xã hội. Mỗi người cần nhận thức rằng đây không chỉ là một xu hướng phát triển mà còn là vấn đề sống còn đối với đất nước. Từ người sản xuất, người kinh doanh, người tiêu dùng đến các chủ thể tham gia lưu thông hàng hóa đều cần thay đổi nhận thức và hành động theo hướng xanh hơn, bền vững hơn. Chỉ khi toàn xã hội cùng tham gia, quá trình chuyển đổi xanh mới có thể đạt được hiệu quả thực chất. 

Chuyển đổi xanh không phải lúc nào cũng mang lại lợi nhuận ngay lập tức. Quá trình này đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy phát triển của cả doanh nghiệp và xã hội. Nếu chỉ đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận mà không quan tâm đến trách nhiệm đối với môi trường và cộng đồng thì rất khó thực hiện chuyển đổi xanh một cách thực chất và bền vững. 

Tóm lại, chuyển đổi xanh đang đối mặt với nhiều thách thức, từ thay đổi nhận thức, tư duy, đẩy mạnh tuyên truyền đến bảo đảm các điều kiện thực hiện. Dù vậy, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, định hướng rõ ràng để từng bước triển khai quá trình này. 

PV: Bà nhận định chuyển đổi xanh là một quá trình toàn diện, bao trùm nhiều lĩnh vực. Thế nhưng điều kiện nguồn lực không thể dàn trải, theo bà việc xác định các lĩnh vực ưu tiên cần dựa trên những tiêu chí nào và nên được triển khai ra sao để đạt hiệu quả thực chất? 

PGS. TS Bùi Thị An: Về nguyên tắc, nếu có đủ điều kiện thì chuyển đổi xanh nên được triển khai đồng thời trên tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, trong thực tế, tùy theo điều kiện phát triển của từng giai đoạn và đặc thù của từng địa phương mà sẽ có những lĩnh vực cần được ưu tiên trước để bảo đảm hiệu quả và tính khả thi của quá trình chuyển đổi. 

Tại Hà Nội, bài toán lớn cần giải quyết là ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường, vì vậy phát triển giao thông xanh cần được ưu tiên trong lộ trình chuyển đổi xanh của thành phố. Trong khi đó, ở những địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi, việc thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió có thể được xem là hướng đi ưu tiên. Việc lựa chọn lĩnh vực trọng tâm cần dựa trên điều kiện thực tiễn và lợi thế của từng địa phương để bảo đảm hiệu quả triển khai. 

Việc xác định lĩnh vực ưu tiên cần dựa trên điều kiện thực tiễn của từng địa phương, bao gồm đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội, trình độ nhận thức và nguồn lực hiện có. Tuy nhiên, đã lựa chọn lĩnh vực nào thì phải làm đến nơi đến chốn, giải quyết dứt điểm vấn đề đó. Chỉ khi giải quyết hiệu quả từng vấn đề cụ thể mới có thể tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi xanh diễn ra thực chất và bền vững. 

PV: Thưa bà, vì sao cùng thực hiện một chủ trương về chuyển đổi xanh nhưng kết quả giữa các địa phương lại có sự khác biệt? Nhìn từ trường hợp của Hà Nội, bà đánh giá như thế nào về vai trò của chính quyền địa phương trong việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh?

PGS. TS Bùi Thị An: Hiện nay, các chủ trương về chuyển đổi xanh từ Trung ương, từ Quốc hội đến Chính phủ cơ bản đã khá đầy đủ. Tuy nhiên, khi triển khai ở từng địa phương thì sẽ có những vướng mắc khác nhau. Có địa phương đạt được 90% mục tiêu, có nơi đạt 80%, nhưng cũng có nơi còn chưa đạt yêu cầu. 

Điều này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ và trách nhiệm của người đứng đầu. Khi người đứng đầu nhận thức đầy đủ về phát triển xanh thì sẽ có những chủ trương cụ thể và tập trung nguồn lực để thực hiện. Phải nhận thức được rằng phát triển xanh là xu hướng tất yếu, là con đường độc đạo mà Việt Nam phải đi tới. Sau nhận thức là vấn đề nguồn lực. Nguồn lực gồm hai phần: nguồn lực từ ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội hóa. Chỉ khi tổ chức thực hiện tốt thì chuyển đổi xanh mới thành công. Đây là trách nhiệm từ nhận thức đến hành động của những người được giao quyền quản lý và điều hành.

Đối với Hà Nội, thời gian qua đã làm rất quyết liệt trong quá trình chuyển đổi xanh. Thành phố đã tăng tỷ lệ cây xanh, cải tạo công viên và ban hành nghị quyết về vùng phát thải thấp trong khu vực nội đô. Đây là những giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề môi trường, đặc biệt là môi trường không khí. Hà Nội cũng đã có những giải pháp rất cụ thể để triển khai các vùng thí điểm phát thải thấp trước khi mở rộng ra phạm vi lớn hơn. Trong quản lý xây dựng, thành phố siết chặt việc quản lý vật liệu và phế thải xây dựng. Trong lĩnh vực nông nghiệp, Hà Nội đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao và phát triển nông nghiệp hữu cơ. Tất cả những việc đó đều là nội dung của chuyển đổi xanh.

Tuy nhiên, đối với vấn đề không khí thì vẫn còn nhiều khó khăn. Không khí không có biên giới, vì vậy không chỉ riêng Hà Nội có thể quản lý được mà còn liên quan đến các địa phương lân cận. Hà Nội đang quyết tâm thực hiện lộ trình đến năm 2030, từng bước mở rộng mô hình phát thải thấp trên toàn thành phố, hướng tới mục tiêu xây dựng Hà Nội trở thành nơi đáng sống.

PV: Thưa bà, chuyển đổi xanh được kỳ vọng mang lại nhiều lợi ích về môi trường và chất lượng sống. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, một bộ phận người dân có thể phải chịu những tác động nhất định, đặc biệt là các nhóm lao động phụ thuộc vào phương tiện giao thông để mưu sinh. Theo bà, cần làm gì để quá trình chuyển đổi xanh diễn ra hiệu quả mà vẫn bảo đảm sinh kế và quyền lợi của người dân? 

PGS. TS Bùi Thị An: Mục tiêu cuối cùng của chuyển đổi xanh là nâng cao chất lượng cuộc sống và để người dân được thụ hưởng những thành quả từ chính quá trình đó. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu triển khai, một số nhóm đối tượng sẽ chịu tác động nhiều hơn những nhóm khác.

screenshot-2026-06-16-032105-1781554905.png
Quá trình chuyển đổi xe máy xăng sang xe máy điện đang đối diện nhiều thách thức. (Ảnh: Hải Ly)

Hiện nay, giao thông được xem là một trong những nguồn phát thải lớn gây ô nhiễm không khí, vì vậy việc từng bước hạn chế các phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch là một trong những giải pháp mà Hà Nội đang hướng tới. Tuy nhiên, trong điều kiện thực tế của Việt Nam, đặc biệt tại Hà Nội, xe máy và ô tô không chỉ là phương tiện đi lại mà còn là công cụ mưu sinh của rất nhiều người dân. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với các nhà quản lý phải tìm được sự cân bằng giữa mục tiêu bảo vệ môi trường và bảo đảm sinh kế cho người dân trong quá trình chuyển đổi.

Những nhóm chịu tác động rõ nét nhất hiện nay là các hộ gia đình có điều kiện kinh tế còn khó khăn, những người sử dụng xe máy hoặc ô tô làm phương tiện kiếm sống hằng ngày, cùng với lực lượng giao hàng, vận tải và các nhóm lao động dễ bị tổn thương khác. Đây là những đối tượng có thể phải đối mặt với áp lực lớn nhất khi các chính sách chuyển đổi xanh được triển khai.

Vì vậy, cần có những chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm đối tượng trên cơ sở phân loại cụ thể về điều kiện kinh tế và mức độ bị tác động. Những nhóm khó khăn hơn cần nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn để có thể thích ứng với quá trình chuyển đổi. Đồng thời, việc triển khai chính sách cần được thực hiện theo lộ trình rõ ràng, từng bước một, tránh gây xáo trộn hoặc tạo ra những cú sốc không cần thiết đối với đời sống người dân.

Thực tế cho thấy Hà Nội đang lựa chọn cách tiếp cận thận trọng thông qua việc triển khai thí điểm trước khi mở rộng trên diện rộng. Đây là hướng đi phù hợp với điều kiện thực tiễn, vừa giúp đánh giá hiệu quả chính sách, vừa hạn chế những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện chuyển đổi xanh.

PV: Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang sử dụng các tiêu chuẩn xanh như một điều kiện để tham gia chuỗi cung ứng và thương mại toàn cầu, theo bà chuyển đổi xanh hiện nay có còn đơn thuần là một mục tiêu môi trường hay đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia?

PGS. TS Bùi Thị An: Tôi cho rằng nhận định này hoàn toàn có cơ sở. Tuy nhiên, khi nói đến phát triển xanh, chúng ta không nên chỉ hiểu theo nghĩa môi trường xanh. "Xanh" còn bao hàm chất lượng cuộc sống, chất lượng sản phẩm, chất lượng tăng trưởng và năng lực phát triển của cả nền kinh tế.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia ngày càng gắn kết chặt chẽ với nhau thông qua thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng. Nếu không phát triển theo hướng xanh, chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập, bởi các sản phẩm có thể không đáp ứng được những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.

Vì vậy, phát triển xanh không còn là một lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu. Muốn hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững, Việt Nam phải bắt kịp xu thế chung của thế giới.

Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng các lộ trình chuyển đổi xanh cho nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhà nước cũng đang từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách để hỗ trợ các đơn vị tiên phong, khuyến khích doanh nghiệp phát triển sản phẩm xanh và thúc đẩy các mô hình sản xuất bền vững.

Về lâu dài, đây không chỉ là giải pháp bảo vệ môi trường mà còn là con đường quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gia tăng giá trị sản phẩm và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai.

Hải Ly, Lan Phương