Hiện nay, dù nhận thức về trẻ tự kỷ trong cộng đồng đã được nâng cao, nhưng vẫn có không ít người còn kỳ thị hoặc hiểu lầm về rối loạn phổ tự kỷ. Thậm chí, không ít bậc phụ huynh thường che giấu việc con mắc tự kỷ vì sợ bị xa lánh. Ít ai biết được rằng, chính những điều này lại càng khiến trẻ tự kỷ gặp khó khăn trong giao tiếp, tiếp xúc với cộng đồng, từ đó việc phát hiện và can thiệp khó khăn hơn. Vậy đâu là những hiểu lầm thường gặp về tự kỷ và cần tiếp cận sao cho đúng?
Những hiểu lầm thường gặp về tự kỷ và cần hiểu sao cho đúng
Tự kỷ là bệnh: Đây là một hiểu lầm thường gặp ở không ít người. Thạc sĩ tâm lý lâm sàng Hoàng Quốc Lân, thành viên Hội Tâm lý trị liệu Việt Nam khẳng định: Tự kỷ không phải là bệnh. Tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển thần kinh có cơ sở sinh học, chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau.
Mặc dù chưa rõ nguyên nhân cụ thể, tuy nhiên có những giả thuyết cho thấy có thể liên quan đến sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và các tác động từ môi trường. Trong đó, các yếu tố nguy cơ từ môi trường, chẳng hạn như tình trạng sức khỏe và thể chất của người mẹ trong thai kỳ, có thể ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ của trẻ.

Tự kỷ không phải là bệnh như nhiều người vẫn nghĩ. Ảnh minh họa.
Sự tương tác giữa yếu tố di truyền và môi trường có thể dẫn đến những bất thường trong cấu trúc và chức năng não, từ đó ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp, tương tác xã hội và nhận thức của trẻ trong quá trình phát triển.
Tự kỷ điều trị khỏi hoàn toàn: Hiện có không ít lời mời chào, quảng cáo các dịch vụ trị liệu, các sản phẩm giúp điều trị khỏi hoàn toàn tự kỷ. Tuy nhiên, điều này là hoàn toàn không chính xác. Thạc sĩ Hoàng Quốc Lân cho biết, hiện chưa xác định được nguyên nhân chính xác của tự kỷ, nên tự kỷ cũng không thể điều trị khỏi. Cũng chính vì thế, tự kỷ không gọi là bệnh mà là một dạng rối loạn phát triển được đặc trưng bởi sự thiếu hụt bởi hai yếu tố chính là tương tác giao tiếp và có các sở thích hành vi định hình lặp lại. Dù không phải bệnh và không chữa được, nhưng rối loạn phổ tự kỷ hoàn toàn có thể trị liệu được và cho những kết quả khả quan tùy vào từng giai đoạn phát hiện và can thiệp.
Trẻ tự kỷ là thiên tài: Đây là một hiểu lầm nhiều phụ huynh gặp phải, điều này ảnh hưởng đến việc can thiệp sớm khi phát hiện trẻ có dấu hiệu chỉ điểm. Thạc sĩ Hoàng Quốc Lân cho biết, trẻ tự kỷ thường có tính rập khuôn, máy móc và phát triển thiên lệch về một năng khiếu gì đó, nên mọi người lầm tưởng đó là tài năng.
Tuy nhiên, về bản chất đó chỉ là sự sao chép, ghi nhớ lại để làm theo và làm rất tốt vấn đề đó mà rất ít sự sáng tạo. Trường hợp đó không thể gọi là thiên tài, vì ngoài lĩnh vực đó trẻ thường ít hứng thú và quan tâm đến vấn đề khác, giao tiếp và ứng xử xã hội và quản lý cảm xúc gặp nhiều khó khăn…

Không phải trẻ tự kỷ là thiên tài, đầy là lầm tưởng và ngộ nhận làm mất cơ hội trị liệu trong thời gian vàng. Ảnh minh họa.
Riêng với trẻ tự kỷ có những kỹ năng thiên bẩm, thạc sĩ Quốc Lân cho rằng, cha mẹ, nhà giáo dục hay chuyên gia tâm lý trị liệu sẽ không dập tắt tài năng đó, mà vẫn phát triển kỹ năng của trẻ. Song song với đó, rất cần thiết phải giáo dục các kỹ năng khác để trẻ phát triển toàn diện hơn, mục đích cao nhất là trẻ hòa nhập và thích ứng được với xã hội, tự phục vụ và phát triển bản thân.
Đâu là “thời gian vàng” để can thiệp cho trẻ tự kỷ?
Theo các nghiên cứu và thống kê cho thấy, tỷ lệ trẻ bị rối loạn phổ tự kỷ đang có xu hướng gia tăng và tỉ lệ gặp ở bé trai nhiều hơn bé gái. Theo đó, các trẻ trai có nguy cơ được chẩn đoán có rối loạn phổ tự kỷ cao hơn 4 lần so với các bé gái.
Còn tại Việt Nam, theo Ths.BS Bùi Phương Thảo, khoa Tâm thần trẻ em, Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương cho biết, hiện nay dù chưa có thống kê cụ thể nhưng số trẻ bị tự kỷ có gia tăng với khoảng 1% dân số. Sở dĩ có con số tăng là vì phương pháp chuẩn đoán tốt hơn trước, bố mẹ nhận thức tốt hơn về tự kỷ và cho trẻ đi khám nhiều hơn khi con có những biểu hiện nghi ngờ.
Thạc sĩ tâm lý lâm sàng Hoàng Quốc Lân cho biết thêm rằng, dù nhận thức về rối loạn phổ tự kỷ trong cộng đồng đã được cải thiện hơn trước, nhưng hầu hết trẻ em vẫn được chẩn đoán sau 4 tuổi, mặc dù tự kỷ có thể được chẩn đoán một cách đáng tin cậy ngay từ khi 2 tuổi.

Can thiệp và trị liệu trẻ tự kỷ sẽ tùy vào giai đoạn, kết hợp nhiều biện pháp khác nhau. Ảnh tư liệu/Lê Phương.
Theo thạc sĩ Quốc Lân, với trẻ tự kỷ, cần can thiệp càng sớm càng tốt, lý tưởng nhất là giai đoạn vàng trẻ dưới 3 tuổi và mỗi trẻ đều có các kế hoạch giáo dục, can thiệp khác nhau tùy vào mỗi khó khăn và mức độ của từng trẻ. Các chương trình can thiệp được xếp vào các nhóm chính như sau: các can thiệp dựa trên hành vi; can thiệp về sự phát triển; can thiệp dựa trên trị liệu; can thiệp dựa trên y sinh học; can thiệp tổng hợp; can thiệp dựa trên gia đình.
Việc can thiệp sớm kết hợp với can thiệp đúng là điều rất quan trọng và luôn song hành với nhau. Ngược lại nếu phát hiện muộn, dù can thiệp đúng thì hiệu quả cũng sẽ không thể bằng can thiệp khi phát hiện sớm. Thực tế, có nhiều trẻ phát hiện sớm, khi các biểu hiện còn rất nhẹ, được can thiệp kịp thời nên cho kết quả rất tốt. Khi đó, trẻ hoàn toàn có thể thích nghi, kết nối, tham gia các hoạt động và giao tiếp với môi trường xung quanh.
Do vậy, để phát hiện sớm trẻ rối loạn phổ tự kỷ và đưa đi thăm khám, có biện pháp can thiệp kịp thời thì vai trò của gia đình là vô cùng quan trọng. Thạc sĩ Quốc Lân tư vấn, khi phát hiện trẻ bất thường về ngôn ngữ (chậm nói), hành vi (lặp lại), vận động (chậm đi), nhận thức (gọi tên không phản ứng)… thì hãy đi khám để được phát hiện sớm tự kỷ (nếu có).
Với nhóm trẻ ở lứa tuổi lớn hơn, khi đó ngoài gia đình thì nhà trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và phối hợp can thiệp. Tuy nhiên, đa số trẻ tự kỷ đều bộc lộ biểu hiện ngay khi còn nhỏ, khi trẻ quá 5 tuổi mới phát hiện dù vẫn can thiệp được nhưng sẽ khó khăn hơn.